Hà Tĩnh mở đường đưa cây dó bầu thành ngành hàng giá trị cao
VAWA - Với việc thành lập Tổ công tác liên ngành, Hà Tĩnh đang chuyển cách tiếp cận đối với cây dó bầu: từ một sinh kế phát triển dựa nhiều vào kinh nghiệm sang ngành hàng có quy hoạch, khoa học, truy xuất nguồn gốc, sở hữu trí tuệ và liên kết thị trường.

Ngày 30/6/2026, Chủ tịch UBND tỉnh Hà Tĩnh Phan Thiên Định ký Quyết định số 1479/QĐ-UBND thành lập Tổ công tác liên ngành hỗ trợ phát triển cây dó bầu trên địa bàn tỉnh.

Nếu chỉ nhìn ở hình thức, đây là một quyết định kiện toàn bộ máy để xử lý một lĩnh vực sản xuất cụ thể. Nhưng đặt trong yêu cầu tái cơ cấu nông nghiệp, nâng cao giá trị lâm sản và xây dựng sinh kế bền vững, quyết định này mang ý nghĩa lớn hơn: Hà Tĩnh bắt đầu đặt cây dó bầu vào một cấu trúc phát triển có sự dẫn dắt của Nhà nước, sự tham gia của khoa học và khả năng kết nối thị trường.
Giá trị của cây dó bầu không nằm đơn thuần ở thân gỗ, mà được hình thành qua cả quá trình từ giống, điều kiện lập địa, kỹ thuật tạo trầm, khai thác, chế biến đến xác lập nguồn gốc hợp pháp. Khi toàn bộ chuỗi được chuẩn hóa, trầm hương có thể trở thành sản phẩm đặc hữu mang giá trị kinh tế, văn hóa và thương mại vượt xa phạm vi một địa phương.
Từ lợi thế tự nhiên đến yêu cầu tổ chức lại ngành hàng
Theo thông tin được UBND tỉnh Hà Tĩnh công bố, toàn tỉnh hiện có khoảng 2.700ha dó trầm với gần 3 triệu cây, tập trung chủ yếu tại khu vực Hương Khê trước đây. Làng nghề chế tác trầm hương Phúc Trạch từng bước hình thành, tạo việc làm và mang lại nguồn thu đáng kể cho người dân.

Riêng Phúc Trạch hiện có khoảng 1.000ha dó bầu, doanh thu được địa phương ước tính khoảng 200 tỷ đồng mỗi năm. Từ một vùng quê còn nhiều khó khăn, Phúc Trạch đã trở thành địa danh được nhắc đến trên bản đồ trầm hương Việt Nam.
Tuy nhiên, diện tích lớn chưa đồng nghĩa đã hình thành một ngành hàng mạnh. Chính các báo cáo của địa phương cũng chỉ ra những điểm nghẽn: sản xuất còn phân tán; việc phát triển cây dó có nơi mang tính tự phát; quy trình kỹ thuật chưa đồng đều; thị trường vẫn tập trung nhiều vào cây giống và sản phẩm sơ chế; liên kết giữa người trồng, cơ sở chế biến, doanh nghiệp phân phối và đơn vị nghiên cứu chưa chặt chẽ.
Khoảng cách từ “vùng có nhiều cây dó” đến “trung tâm trầm hương có thương hiệu” nằm ở năng lực tổ chức chuỗi giá trị. Nếu người dân chỉ bán cây hoặc nguyên liệu thô, phần giá trị lớn nhất sẽ rơi vào khâu chế tác, xây dựng thương hiệu và phân phối. Vì vậy, vấn đề không chỉ là trồng thêm bao nhiêu hecta, mà là mỗi hecta dó bầu sẽ được quản lý và thương mại hóa như thế nào.
Một tổ công tác nhưng bao quát toàn bộ chuỗi giá trị
Theo Quyết định 1479, Tổ công tác có 16 thành viên, do Phó Chủ tịch UBND tỉnh Hà Tĩnh Hồ Huy Thành làm Tổ trưởng.

Các thành viên đến từ Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm, Cơ quan thẩm quyền quản lý CITES Việt Nam, các đơn vị chuyên môn thuộc Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Trường Đại học Lâm nghiệp, Sở Nông nghiệp và Môi trường, Sở Khoa học và Công nghệ, Sở Công Thương, Sở Tài chính, Trung tâm Lâm sản ngoài gỗ, chính quyền các vùng trồng cùng đại diện doanh nghiệp.
Cơ cấu này cho thấy Hà Tĩnh không coi cây dó bầu chỉ là câu chuyện của ngành lâm nghiệp. Muốn hình thành một ngành hàng, địa phương phải đồng thời giải quyết các bài toán về kỹ thuật, pháp lý, nguồn gốc lâm sản, sở hữu trí tuệ, chế biến, thương mại và sinh kế.
Tổ công tác được giao hướng dẫn các địa phương định hướng phát triển cây dó bầu gắn với khai thác, chế biến và tiêu thụ phù hợp từng quy mô; phối hợp xây dựng, hướng dẫn quy trình kỹ thuật từ trồng, chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh, tạo trầm đến chế biến sâu; đồng thời tháo gỡ vướng mắc trong hồ sơ xác nhận nguồn gốc hợp pháp của sản phẩm.
Trầm hương có giá trị cao nhưng khó định danh chất lượng bằng quan sát thông thường. Khi thiếu chuẩn mực và hồ sơ nguồn gốc, thị trường dễ rơi vào tình trạng thật - giả lẫn lộn, người làm ăn chân chính chịu thiệt và uy tín vùng trồng bị bào mòn.
Truy xuất nguồn gốc, vì vậy, không phải là một thủ tục hành chính làm khó người sản xuất. Đó chính là “hộ chiếu” để trầm hương bước vào hệ thống phân phối hiện đại và thị trường quốc tế.
Muốn đi xa phải có danh tính cho sản phẩm
Một nhiệm vụ đáng chú ý khác là khảo sát, xây dựng chỉ dẫn địa lý cho cây dó bầu; xác lập quyền bảo hộ gắn với khu vực địa lý cụ thể; hoàn thiện hồ sơ để Cục Sở hữu trí tuệ thẩm định, cấp văn bằng theo quy định và đề xuất triển khai các nhiệm vụ khoa học liên quan.
Điều này chạm đúng điểm yếu của nhiều đặc sản Việt Nam: có sản phẩm quý nhưng chưa có “danh tính” đủ mạnh. Một địa danh chỉ trở thành thương hiệu khi chất lượng đặc thù được chứng minh, vùng nguyên liệu được khoanh định, quy trình được kiểm soát và tên gọi được pháp luật bảo hộ.

Đối với trầm hương, chỉ dẫn địa lý không đơn giản là gắn tên Hà Tĩnh hoặc Phúc Trạch lên bao bì. Quá trình này phải xác định được điều kiện tạo ra khác biệt, chỉ tiêu phản ánh chất lượng, ranh giới vùng sản xuất và cơ chế kiểm soát việc sử dụng tên gọi.
Khi đó, chỉ dẫn địa lý sẽ trở thành thiết chế quản trị chất lượng chứ không chỉ là công cụ quảng bá: người trồng có cơ hội bán sản phẩm với giá trị cao hơn, doanh nghiệp có nguồn nguyên liệu ổn định và địa phương bảo vệ được uy tín vùng sản xuất.
Sự tham gia của Cơ quan thẩm quyền quản lý CITES Việt Nam cũng có ý nghĩa quan trọng. Các loài thuộc chi Aquilaria tạo trầm thuộc phạm vi quản lý của Công ước CITES. Bởi vậy, Hà Tĩnh muốn mở rộng thị trường không thể chỉ bán câu chuyện về một sản vật quý; địa phương phải chứng minh sản phẩm có nguồn gốc hợp pháp, có thể kiểm tra và đáp ứng quy định của thị trường nhập khẩu.
Không thể để người trồng đứng ngoài phần giá trị lớn nhất
Quyết định của UBND tỉnh Hà Tĩnh còn giao Tổ công tác hỗ trợ xúc tiến thương mại, quảng bá sản phẩm chế biến từ cây dó bầu và phát triển chuỗi giá trị từ sản xuất đến chế biến, tiêu thụ.
Đồng thời, các địa phương, hợp tác xã, tổ chức và cá nhân được định hướng tham gia chương trình liên kết với hộ nông dân để phát triển kinh tế, thoát nghèo bền vững.
Một ngành hàng chỉ có ý nghĩa khi giá trị gia tăng quay trở lại vùng nguyên liệu. Nếu người trồng phải gánh rủi ro trong nhiều năm nhưng chỉ bán nguyên liệu với giá bấp bênh, trong khi lợi nhuận tập trung ở khâu thương mại, chuỗi đó khó bền vững.
Do vậy, Hà Tĩnh cần thúc đẩy hợp tác xã và liên kết có hợp đồng; công khai tiêu chí phân hạng, thu mua; hỗ trợ vốn cho chu kỳ đầu tư dài và khuyến khích doanh nghiệp đặt cơ sở chế biến tại vùng nguyên liệu. Sản phẩm được chế tác, đóng gói và xây dựng thương hiệu ngay tại địa phương sẽ giữ lại giá trị lớn hơn cho kinh tế nông thôn.
Về lâu dài, chuỗi sản phẩm cần được mở rộng từ cây giống có kiểm soát, trầm miếng, nhang, tinh dầu, thủ công mỹ nghệ, quà tặng văn hóa đến trải nghiệm làng nghề. Một chuỗi chế biến tốt có thể tận dụng từng cấp độ nguyên liệu, hạn chế lãng phí và tạo thêm việc làm.
Từ quyết định của một tỉnh đến gợi mở cho ngành trầm hương Việt Nam
Việc thành lập Tổ công tác cho thấy Hà Tĩnh chủ động xây dựng nền tảng thể chế cho ngành hàng. Từ một sản phẩm gắn với kinh nghiệm dân gian và giao dịch nhỏ lẻ, cây dó bầu đang được đặt trong mối quan hệ với khoa học, tiêu chuẩn kỹ thuật, sở hữu trí tuệ, quản lý CITES, chế biến sâu và thương mại.
Nếu được triển khai thực chất, mô hình này có thể cung cấp kinh nghiệm cho các vùng trồng dó bầu trong cả nước. Để hình thành một ngành trầm hương có vị thế, Việt Nam cần tiến tới hệ thống tiêu chuẩn thống nhất, cơ sở dữ liệu vùng trồng, mã số truy xuất, phân hạng chất lượng, năng lực kiểm định và chiến lược thị trường quốc gia.
Trong tiến trình đó, Hội Trầm hương Việt Nam có thể phát huy vai trò cầu nối giữa cơ quan quản lý, nhà khoa học, doanh nghiệp và người trồng; tham gia phản biện chính sách, phổ biến quy trình, bảo vệ uy tín sản phẩm và thúc đẩy những chuẩn mực chung cho toàn ngành.
Tuy nhiên, hiệu quả của Quyết định 1479 sẽ không được đo bằng số cuộc họp hay số văn bản được ban hành.
Thước đo cuối cùng phải là diện tích được quản lý theo quy trình; số lô sản phẩm truy xuất được nguồn gốc; tỷ lệ nguyên liệu được chế biến sâu; chỉ dẫn địa lý được xác lập và vận hành; thị trường được mở rộng; cùng mức thu nhập thực tế mà người trồng dó nhận được.
Hà Tĩnh đã đặt viên gạch đầu tiên cho một cấu trúc phát triển mới. Phần việc tiếp theo là biến sự phối hợp liên ngành thành sản phẩm đạt chuẩn, biến lợi thế bản địa thành thương hiệu và biến giá trị quý của trầm hương thành động lực phát triển bền vững cho người dân.
Khi đó, cây dó bầu sẽ không chỉ là “cây làm giàu” của một số hộ, mà có thể trở thành một ngành hàng đặc hữu, góp phần định vị trầm hương Việt Nam trên bản đồ thế giới.
Thảo luận (0)
✦ Hội Trầm Hương Việt Nam ✦
Tham gia thảo luận cùng cộng đồng trầm hương
Bình luận, chia sẻ và kết nối với hơn 50 doanh nghiệp ngành trầm. Đăng ký miễn phí để trở thành hội viên Hội Trầm Hương Việt Nam.





