Cần cơ chế đất đai phù hợp cho vùng trồng trầm hương
VAWA - Từ thực tiễn phát triển vùng trồng dó bầu tạo trầm, Hội Trầm hương Việt Nam kiến nghị chính sách đất đai cần nhận diện đúng chu kỳ đầu tư dài, giá trị đặc thù của vườn cây, đồng thời ngăn việc lợi dụng mô hình để chuyển đổi đất, kinh doanh bất động sản trái phép.

Trong bối cảnh dự án Luật Đất đai (sửa đổi) đang được lấy ý kiến, Hội Trầm hương Việt Nam đã gửi văn bản tới Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam, đề xuất hoàn thiện chính sách đối với các mô hình lâm nghiệp có chu kỳ đầu tư dài, trong đó có vùng trồng cây dó bầu tạo trầm.

Theo Hội, giá trị của mô hình không chỉ nằm ở gỗ hoặc cây đứng, mà được tích lũy qua nhiều năm chăm sóc, kỹ thuật tạo trầm, khả năng chế biến sâu và liên kết với chuỗi sản phẩm như tinh dầu, hương liệu, thủ công mỹ nghệ, sản phẩm chăm sóc sức khỏe và du lịch trải nghiệm. Trong khi đó, thời hạn sử dụng đất, thời hạn dự án và chu kỳ cây trồng ở một số mô hình chưa đồng bộ, làm gia tăng rủi ro cho người góp đất và nhà đầu tư.
Quy hoạch đủ ổn định cho cây lâm nghiệp chu kỳ dài
Hội Trầm hương Việt Nam cho rằng các địa phương có điều kiện tự nhiên phù hợp cần nghiên cứu xác định vùng trồng dó bầu trong quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, đồng bộ với quy hoạch lâm nghiệp, hạ tầng giống, sơ chế và chế biến. Quy hoạch phải đủ ổn định để người dân, hợp tác xã, doanh nghiệp có thể theo đuổi chu kỳ sản xuất dài, nhưng phải dựa trên đánh giá đất đai, nguồn nước, môi trường và hiệu quả thực tế, tránh phát triển theo phong trào.

Luật Đất đai 2024 quy định cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp đang sử dụng đất được Nhà nước giao trong hạn mức, khi hết thời hạn sử dụng thì được tiếp tục sử dụng mà không phải làm thủ tục gia hạn. Vì vậy, vướng mắc cần tập trung không phải là kiến nghị gia hạn chung cho mọi trường hợp, mà là cơ chế xử lý đối với đất thuê, dự án đầu tư có sử dụng đất hoặc mô hình liên kết khi thời hạn đất, thời hạn dự án và chu kỳ cây trồng không trùng nhau.

Từ thực tế này, Hội kiến nghị nghiên cứu tiêu chí minh bạch, thời điểm giải quyết hồ sơ sớm và phương án xử lý tài sản là cây trồng nếu dự án không được gia hạn. Quy định rõ ngay từ đầu sẽ giảm tranh chấp, bảo vệ người góp đất và giúp nhà đầu tư tính đúng vòng đời dự án.
Việc hình thành vùng nguyên liệu quy mô lớn cũng cần dựa trên cơ chế tự nguyện. Hợp đồng cho thuê đất, góp quyền sử dụng đất hoặc liên kết sản xuất phải xác định rõ thời hạn, giá thuê, cơ chế chia lợi ích, quyền sở hữu cây trồng, trách nhiệm bảo vệ đất và phương án xử lý vườn cây khi hợp đồng chấm dứt trước kỳ khai thác.
Theo Hội, đây là hàng rào cần thiết để tránh tình trạng người dân nhận khoản lợi trước mắt nhưng mất sinh kế dài hạn, trong khi đất bị thu gom rồi bỏ hoang hoặc dự án đình trệ. Người góp đất phải được tiếp cận thông tin, tham gia giám sát và hưởng lợi ích tương xứng với giá trị đất đai, công sức và rủi ro đã chia sẻ.
Định giá đúng vườn cây đã tạo trầm
Một vấn đề khác được Hội đặc biệt quan tâm là bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất. Luật Đất đai 2024 quy định việc bồi thường đối với cây lâu năm theo giá trị thiệt hại thực tế của vườn cây. Tuy nhiên, nếu chỉ áp dụng đơn giá cây trồng thông thường, giá trị của vườn dó bầu đã được tạo trầm có thể chưa được phản ánh đầy đủ.
Giá trị vườn cây có thể chênh lệch đáng kể tùy tuổi cây, mật độ, nguồn giống, tình trạng sinh trưởng, kỹ thuật và thời điểm tạo trầm, tỷ lệ cây đạt yêu cầu, chi phí đã đầu tư cũng như khả năng thu hồi sản phẩm. Hội đề xuất xây dựng phương pháp kiểm kê, định giá phù hợp; có thể huy động tổ chức tư vấn định giá, chuyên gia lâm nghiệp và hiệp hội nghề nghiệp cung cấp dữ liệu, phản biện phương án.
Dù vậy, mức bồi thường phải được xác định từ hồ sơ nguồn gốc, nhật ký sản xuất, hiện trạng kiểm kê và chứng cứ kỹ thuật, không thể mặc nhiên tính theo giá kỳ vọng của sản phẩm trầm hương trên thị trường. Cách tiếp cận này vừa bảo vệ quyền lợi hợp pháp của chủ vườn, vừa hạn chế việc kê khai, thổi giá tài sản.
Đối với đề xuất công nhận giá trị trầm hình thành trong cây là tài sản có thể đăng ký, thế chấp hoặc chuyển nhượng, Hội cho rằng cần tiếp tục nghiên cứu thận trọng. Cây trồng, rừng trồng và sản phẩm hợp pháp là tài sản theo pháp luật dân sự và chuyên ngành, nhưng khả năng đăng ký, dùng làm tài sản bảo đảm hoặc định giá còn phụ thuộc loại tài sản và hồ sơ pháp lý cụ thể.
Trước mắt, cần chuẩn hóa hồ sơ vùng trồng, kiểm kê cây, nhật ký kỹ thuật, mã số vùng trồng và truy xuất nguồn gốc. Đây sẽ là nền tảng cho giao dịch, bồi thường, tiếp cận tín dụng, đồng thời góp phần ngăn sản phẩm không rõ nguồn gốc tham gia thị trường.
Không mở đường cho biến tướng đất đai
Tại các vùng trồng tập trung, nhu cầu bố trí vườn ươm, kho vật tư, hệ thống tưới, đường nội bộ, công trình phòng cháy, điểm bảo vệ, khu sơ chế và bảo quản là có thật. Điều 218 Luật Đất đai 2024 đã mở cơ chế sử dụng đất kết hợp đa mục đích, đồng thời đặt ra yêu cầu không làm thay đổi loại đất, không làm mất khả năng quay lại sử dụng vào mục đích chính, bảo đảm quốc phòng, an ninh và bảo vệ hệ sinh thái.
Theo Hội Trầm hương Việt Nam, quy định hướng dẫn cần làm rõ loại công trình phục vụ trực tiếp sản xuất, tỷ lệ và quy mô tối đa, hồ sơ phương án, thời hạn giải quyết, nghĩa vụ tài chính và trách nhiệm khôi phục hiện trạng. Những hạng mục vượt khỏi phạm vi phụ trợ hoặc làm thay đổi mục đích sử dụng đất chính vẫn phải thực hiện đầy đủ thủ tục theo pháp luật đất đai, xây dựng, lâm nghiệp và môi trường.
Hoạt động giới thiệu sản phẩm hoặc du lịch trải nghiệm tại vùng trồng cũng chỉ nên tổ chức ở nơi đủ điều kiện, theo phương án được cơ quan có thẩm quyền chấp thuận, hạn chế bê tông hóa và không làm suy giảm chức năng của đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp hoặc rừng.
Hội nhấn mạnh phát triển trầm hương phải đi cùng bảo tồn nguồn gen, kiểm soát giống, truy xuất nguồn gốc và bảo vệ đa dạng sinh học; không được lấy danh nghĩa phát triển vùng trồng để chuyển đổi rừng tự nhiên, phân lô, xây dựng khu nghỉ dưỡng hoặc kinh doanh bất động sản trái phép. Khái niệm “cây sinh thái”, nếu sử dụng, chỉ nên diễn đạt tác dụng và định hướng phát triển, không phải một loại cây hay một loại đất riêng trong hệ thống pháp luật.
Tương tự, tín dụng xanh, dịch vụ môi trường rừng hoặc thị trường carbon chỉ có thể đặt ra khi mô hình đáp ứng đúng điều kiện pháp luật; lượng hấp thụ hoặc giảm phát thải phải được đo đạc, báo cáo và thẩm định theo tiêu chuẩn được công nhận. Việc trồng cây không đồng nghĩa đương nhiên hình thành tín chỉ carbon.
Từ thực tiễn ngành trầm hương, Hội cho rằng lần sửa đổi Luật Đất đai này cần tạo không gian cho mô hình lâm nghiệp giá trị cao nhưng không hạ thấp hàng rào bảo vệ rừng, môi trường và quyền lợi người dân. Chính sách chỉ khả thi khi phân biệt rõ loại đất, chủ thể sử dụng, hình thức giao hoặc thuê đất; gắn quyền khai thác kinh tế với nghĩa vụ sử dụng đất đúng mục đích, minh bạch nguồn gốc và phát triển bền vững.





